.::Trang Thông Tin Điện Tử Ban Tuyên Giáo Tỉnh Đồng Tháp::.
Chào mừng các bạn đến với Trang Thông tin Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Đồng Tháp Trang chủ
Nội dung chi tiết
Nghe bài     Cỡ chữ : A- A A+
Miếu Tiền hiền Huỳnh Quang Huy

Đến nay chưa có tư liệu để biết rõ về dòng dõi và quê quán của cụ Huỳnh Công Huy. Có dư luận cho rằng cụ thuộc dòng dõi họ Bùi và tên là Bùi Quang Huy, có quan hệ thân tộc với Bùi Quang Diệu tức Quản Là hay Đốc binh Là tức Thống binh Là. Có thể là cụ thay đổi họ lúc nghĩa quân tan rã.

Vào năm 1864, Tháp Mười là trung tâm kháng chiến của cả Nam kỳ, bên cạnh việc xây dựng lực lượng quân sự để tiêu diệt kẻ thù, Thiên hộ Dương còn hình thành bộ máy chánh quyền kháng chiến, ông phong cho Bùi Quang Diệu là Tổng đốc tỉnh Gia Định và cụ Huy phụ trách quản đốc quân lương.

Với chức vụ mới đầy trọng trách, là lo sao có đầy đủ lương thực cho trên dưới 1.000 nghĩa quân; cụ Huy cùng với các quan trong bộ phận quân lương ngày đêm xuôi ngược khắp hai miền đông, tây Nam kỳ để tuyên truyền vận động thu mua lúa gạo. Từ căn cứ Tháp Mười, theo các con đường gạo chính:

- Một là con đường Cái Nứa theo hướng trổ ra Quan Cư (nay là xã Hậu Mỹ - Cái Bè) đến Xoài Tư (nay thuộc xã Mỹ Thành Nam – Cai Lậy).

- Con đường thứ hai từ Tháp Mười theo hướng Tây Bắc lên Mộc Hoá, xuyên qua rộc Đìa Gừa (rộc Đìa Gạo) qua làng Hậu Thạnh Đông (nay là xã Tân Thạnh – Long An).

- Cuối cùng là con đường huyết mạch hơn hết, đó là con đường từ Tháp Mười theo hướng tây nam ăn ra rạch Cần Lố; nay còn lại tên Đường Thét, gợi cho hậu thế hình ảnh một con đường thẳng từ ngọn Trà Bông (Đường Gỗ) đến Bàu Tiên - Động Cát; từ đây vào Tháp Mười các các con lung, nay còn hiện rõ…

Dưới sự chỉ huy điều động của cụ Bùi Quang Huy, đội quân lương đã vượt qua mọi khó khăn bất trắc từ khâu tuyên truyền vận động, thu mua, vận chuyển, tiếp tế ra mặt trận, đến các đồn luỹ xa xôi; vượt qua bao ngăn chặn, rình rập, phục kích của giặc để mang lương thực đến tận chiến trường phục vụ chiến đấu. Nên cụ rất được chủ tướng Thiên hộ Dương và anh em nghĩa quân hết lòng tin tưởng.

Đến tháng 4 năm 1866, thực dân Pháp tập trung đại quân tấn công căn cứ Tháp Mười. Cụ Huy cùng đội quân lương vừa chiến đấu, vừa tiếp tế, vừa bảo vệ lương thực. Đến khi Thiên hộ Dương quyết định bỏ căn cứ Tháp Mười, rút lui để bảo tồn lực lượng, cụ được lịnh phải gấp rút mang một số lương thực tối đa có thể mang được, rút đi trước lên vùng biên giới.

Khi nghĩa quân tan rã, cụ Huy không về xứ, vẫn ở lại Sa Rày; cụ ra lịnh giải tán đội quân lương, khuyên nghĩa quân nên về quê quán làm ăn, không cộng tác với giặc, giữ vững lòng trung với nước chờ đợi thời cơ. Có một số nghĩa quân không về làng cũ tình nguyện ở lại với cụ. Trong số nghĩa quân đó có các ông Hồ Cường, Phan Hổ, ông Bua (không nhớ họ)… Sau khi thành lập làng Tân Thành, ông Hồ Cường được cử giữ chức câu đương (lo việc tố tụng, tranh chấp nhỏ trong làng), nên được gọi là Câu Cường; ông Bua và Phan Hổ giữ chức hương tham, nên được gọi là Tham Bua, Tham Hổ. Riêng Tham Bua, có lẽ ông là người có công trong việc khai phá thành lập nên ấp Thi Sơn ngày nay; nên tên của ông đã biến thành địa danh (ấp Tham Bua), tên một ấp của làng Tân Thành ngày trước.

Để lúa gạo bảo đảm cuộc sống lâu dài cho số nghĩa quân tình nguyện ở lại, cụ Huy hô hào họ phá hoang rừng bụi hai bên rạch Thông Bình đến làm ruộng, về sau chiêu mộ thêm lưu dân từ các nơi khác đến. Lúc bấy giờ vùng nầy còn hoang vu dân cư thưa thớt, phần lớn chỉ tập trung chung quanh bảo Thông Bình.

Làng Tân Thành chánh thức ra đời vào khoảng năm 1870, thụôc tổng An Phước, quận Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc; dân làng cử cụ Huy làm hương cả. Khi mới thành lập làng Tân Thành rất rộng bao gồm cả huyện Tân Hồng ngày nay (chỉ trừ xã Bình Thạnh); đến năm 1901 trong làng có 1.434 người.

Sự ra đời của làng Tân Thành là công lao của toàn dân làng, trong đó phải kể đến công lao to lớn của cụ Huỳnh Quang Huy. Theo truyền thống thì “Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ”; ở đây, cụ Huỳnh Quang Huy vừa khai khẩn lại vừa khai cơ. Nên sau khi cụ qua đời, cụ chẳng những được dân làng thờ với tư cách là tiền hiền trong chính điện của đình làng, mà còn lập miếu thờ riêng gọi là miếu Tiền Hiền. Trải bao năm tháng chiến tranh, đạn bom tàn phá, đình và miếu thờ cụ vẫn được trùng tu, ngày đêm khói hương không dứt.

Lan Quyên (TH) 




Gửi ý kiến:
Tiêu đề*
Nội dung*
Upload FileNhap file  Xoa file 
Họ tên*
Địa chỉ*
Địa chỉ Email
Mã bảo vệ:
Nhập mã bảo vệ:

Ý kiến bạn đọc:  
 <<   <   1   >   >>