.::Trang Thông Tin Điện Tử Ban Tuyên Giáo Tỉnh Đồng Tháp::.
Chào mừng các bạn đến với Trang Thông tin Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Đồng Tháp Trang chủ
Nội dung chi tiết
Nghe bài     Cỡ chữ : A- A A+
Hồi ký 100 ngày tập kết chuyển quân tại Cao Lãnh - Câu chuyện thứ 12
Hồi đó, bước chân xuống tàu rời khỏi Cao Lãnh ra miền Bắc, tôi mang trong lòng mình một niềm tin rằng: Sau 2 năm sẽ hiệp thương tổng tuyển cử, nước nhà sẽ độc lập và thống nhất. Nào ngờ hết thằng Diệm rồi tới Khánh, Thiệu… Mỹ đã đưa cả dân tộc ta vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa và khốc liệt suốt 21 năm trời. Đúng là “ta đánh giặc ba mươi năm trời, đổ máu ba mươi năm trời nhưng không gọi: chiến tranh, ba mươi năm tập kết, ly biệt, chạy càn, sơ tán, tản cư, tất thảy đều là đánh giặc”. (Chế Lan Viên). Từ tiểu đoàn 311 của Long Châu Sa đến Trung đoàn 762 của chiến khu Đ rồi Sư đoàn 9 thuộc Quân đoàn 4, tôi gần như đã có mặt suốt cả cuộc hành trình của cả dân tộc ta, biến “tên đế quốc Mỹ lẫy lừng đã thành tên chiến bại - Độc lập này bền vững đến thiên thu”.

Tôi đã hoàn thành sứ mệnh một người lính của mình

Cao Lãnh tháng 10/1954 với tôi là một điểm dừng chân rất nhanh trong cuộc đời binh nghiệp của mình nhưng lại là điểm khởi đầu quan trọng nhất. Nhờ có tập kết, nhờ được ra miền Bắc học tập nên từ một chiến sĩ “đầu trần, chân đất” trở thành một sĩ quan quân đội Nhân dân Việt Nam. Chớp mắt đó mà đã 60 năm đi qua. Vậy mà, với tôi nhiều sự việc chừng như mới xảy ra hôm qua. Có hai chuyện mà tôi nhớ nhất là chuyện mình được tham gia rửa gạch xây dựng mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sanh Huy và tham gia dọn dẹp mặt bằng xây đài tưởng niệm liệt sĩ. Gạch xây mộ cụ Phó bảng do nhân dân đóng góp. Nhà có ít góp ít, có nhiều góp nhiều. Đơn vị chúng tôi chia nhau mang về chỗ ở của mình để rửa gạch cho sạch. Mỗi chiến sĩ ít nhất một viên. Sau đó tập trung lại nơi xây dựng. Với chúng tôi, những thằng “lính trơn” khi được phân công làm việc đó là cảm thấy vinh dự vô cùng.

Chuyện ăn ở, sinh hoạt, học tập của chúng tôi những ngày ở Cao Lãnh thì hẳn anh em, đồng đội cùng thời với tôi kể nhiều rồi. Xin được phép khỏi nhắc lại. Nhưng không hiểu tại sao những ngày đó tôi thường hay quan sát thái độ của bọn Pháp. Phần mình thì mình nghiêm chỉnh chấp hành rồi nhưng vẫn thấy trong thái độ nhún nhường của bọn chúng vẫn mang chút gì đó hống hách, ngạo mạn. Chúng thua ta mà chắc hẳn trong lòng còn ấm ức lắm. Nhất là thái độ của chúng trong buổi làm lễ bàn giao Cao Lãnh lại cho bọn chúng để chờ tổng tuyển cử tổ chức tại khu vực chợ (gần tượng Thống Linh bây giờ). Ta và chúng mỗi bên đứng thành hai hàng dọc. Đại tá Hà Văn Lâu - chuyên viên quân sự của phái đoàn Việt nam Dân chủ cộng hòa tại hội nghị Genève (sau là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) thay mặt Ủy ban liên hợp nói chuyện về hiệp định. Trong những nội dung đó, điều chúng tôi an tâm nhất là có một nội dung được đại tá Hà Văn Lâu nói đi, nói lại nhiều lần là những lực lượng ở lại miền Nam phải thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù, nghiêm cấm mọi hành động thù địch, kỳ thị nhằm vào các cá nhân hay tổ chức đã từng cộng tác với bên này hoặc bên kia. Xong buổi nói chuyện, bên ta ai cũng giơ tay đồng thanh hứa nghiêm chỉnh chấp hành. Còn tên sĩ quan Pháp thì chỉ đứng lên nói duy nhất một câu đại khái là chúc đồng bào Cao Lãnh mạnh giỏi để chờ Việt Minh trở lại.

Ấy vậy mà, hôm ở ngoài Bắc Cao Lãnh chờ xuống tàu ra Vũng Tàu chúng tôi còn chứng kiến sự khiêu khích trắng trợn của chúng. Thấy bà con vẫy tay chào và hẹn chúng tôi hai năm thì có một thằng Tây nằm ngửa ra, đưa hay tay hai chân lên và miệng nói: Vingt ! Vingt ! (Hai mươi ! Hai mươi !) khiến ai cũng thấy xốn hai con mắt. Tức không chịu nổi, đồng chí Hải Ba Trung đội trưởng Trung đội C, đại đội 947 không kềm được nóng giận nhảy phắt tới, xốc tên đó lên tát hai bạt tay thật mạnh. Bị bất ngờ không trở tay kịp, nó chỉ biết kêu la inh ỏi và kiện lên Ủy ban giám sát quốc tế với lý do vi phạm Hiệp định. Sau khi nghe bên ta giải bày, đại diện Ủy ban giám sát tuyên bố nguyên nhân là do thằng Tây khiêu khích trước nên hai bên bắt tay nhau giảng hòa.

Tới Vũng Tàu, tôi lên tàu Ba Lan ra Thanh Hóa. Lần đầu tiên, tôi mới thấy một chiếc tàu lớn như vậy. Tàu có 3 tầng, mỗi tầng đều có máy lạnh. Lênh đênh trên biển suốt ba ngày hai đêm, tôi và đồng đội mình cặp bến Sầm Sơn an toàn. Đơn vị tôi sau một tuần tập trung ở Thanh Hóa nghỉ dưỡng sức là làm quen với điều kiện sinh hoạt, môi trường, con người miền Bắc chúng tôi được chia ra thành nhiều bộ phận khác nhau. Có đồng chí thì ở lại học văn hóa. Có đồng chí bổ sung vào các đội công tác vân dận, tham gia sản xuất ở các vùng kinh tế… Bản thân tôi được chọn vào học khóa đào tạo sĩ quan tại Trường Lục Quân. Học xong, tiếp tục làm công tác huấn luyện cho anh em các khóa sau. Mặc dù nóng ruột muốn được trở về miền Nam nhưng nhiệm vụ cấp trên phân công nên tôi đành nén lòng chịu đựng. Mãi tới năm 1962, tôi được biên chế vào tiểu đoàn thực binh (bộ binh thực hành tác chiến) và được lệnh hành quân về Nam.

Từ Hà Nội, xe đưa chúng tôi vào Quảng Bình. Tại đây, chúng tôi cắt rừng đi trên đất bạn Lào hơn một tháng ròng rã mới sang đất bạn Campuchia. Người dân Khmer đã chuẩn bị sẵn từ trước hàng trăm chiếc xuồng. Mỗi xuồng 3 người, đưa chúng tôi sang dòng Mê kông cuộn chảy đoạn giáp giữa Lào và Campuchia để chúng tôi tiếp tục cắt rừng theo hướng Tây Nam đi tiếp. Thêm khoảng 1 tháng trên đất Campuchia, tiểu đoàn chúng tôi đến biên giới Việt Nam. Qua Lâm Đồng xuôi về Mã Đà (Bình Dương), tiểu đoàn thực binh chúng tôi sát nhập với nhiều đơn vị khác cũng từ Bắc vào theo nhiều đường thành Trung đoàn 2 (tiền thân của Trung đoàn 762 thuộc Sư đoàn 9 sau này).

Năm 1963, tôi được phiên sang Trung đoàn 1 (tiền thân của Trung đoàn 761 thuộc Sư đoàn 9 sau này). Đây là lực lượng chính quy, chủ yếu là bộ đội miền Bắc tăng cường vào cho chiến trường miền Nam. Tôi đã cùng với Trung đoàn 1 tham gia không biết bao nhiêu trận đánh. Trận Bến Cầu (Tây Ninh), trận đọ sức với thủy quân lục chiến Hoa Kỳ ở Bình Giã, trận chống càn với Lữ đoàn dù 173 Hoa Kỳ ở Đất Cuốc (Bình Dương)... Ngày 2/9/1965, trên cơ sở hai trung đoàn 1 và 2, Sư đoàn 9 được thành lập. Lại không biết bao nhiêu trận đánh nữa mà tôi được tham gia như: giao chiến với Sư đoàn 1 Bộ binh Hoa Kỳ trong Chiến dịch Rolling Stone ở Tân Bình, giao chiến với Sư đoàn 1 trong chiến dịch Junction City tại Bàu Bàng.

Trong đợt cùng sư đoàn tham gia cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tôi chẳng may bị thương gãy xương đùi. Đơn vị đưa tôi sang Cam - pu - chia lên Kông  pông chàm an dưỡng. Sau đó thì được phân công về làm công tác huấn luyện cho Bộ tư lệnh C50 của bạn tại Soài Riệp. Ngày 20 tháng 7 năm 1974, khi Quân đoàn 4 được thành lập, Sư đoàn 9 được biên chế vào quân đoàn này và cùng toàn quân đoàn tham gia Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, chiến dịch tấn công Xuân Lộc. Tôi được trên rút về Cục chính trị Quân đoàn tham gia chiến dịch cho đến khi giải phóng hoàn toàn Sài Gòn.

Sau 30/4/1975, Ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định phân công tôi về giữ nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban Quân quản quận 6. Vậy là tôi đã hoàn thành sứ mệnh một người lính của mình để bước sang một chặng đường cách mạng mới.

Ông Kim Hoàng Sây (Kim Thành Rết)

Nguyên Thiếu úy c.947 - d.311 kể,

Hữu Nhân ghi




Gửi ý kiến:
Tiêu đề*
Nội dung*
Upload FileNhap file  Xoa file 
Họ tên*
Địa chỉ*
Địa chỉ Email
Mã bảo vệ:
Nhập mã bảo vệ:

Ý kiến bạn đọc:  
 <<   <   1   2   3   4   5   ...   >   >>