.::Trang Thông Tin Điện Tử Ban Tuyên Giáo Tỉnh Đồng Tháp::.
Chào mừng các bạn đến với Trang Thông tin Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Đồng Tháp Trang chủ
Nội dung chi tiết
Nghe bài     Cỡ chữ : A- A A+
Hồi ký 100 ngày tập kết chuyển quân tại Cao Lãnh - Câu chuyện thứ 10
Tôi sinh năm 1936 trong một gia đình bần nông ở Cái Tàu Hạ, tham gia bộ đội địa phương từ năm 17 tuổi. Năm sau thì được rút về tiểu đoàn 311. Tháng 7/1954, đơn vị tôi đang tham gia chiến dịch truy quét lực lượng Hòa Hảo ở Phú Châu (An Giang) thì nhận được lịnh ngừng bắn và rút quân về Ba Sao. Ở đây chúng tôi được giao nhiệm vụ đón tướng Trần Văn Trà và Bộ Tư lịnh khu 7 từ Cái Bèo về Kinh Bùi. Lần đầu tiên qua vùng đất này, tôi mới biết thế nào là nước phèn. Cái thứ nước gì mà trong xanh, nhìn thấu tận đáy mà uống vô thì chát ngắt cả cổ họng. Nhiều anh em khát, thấy nước trong múc uống nhưng ai cũng lắc đầu vội vàng phun ra như uống phải thuốc Bắc. Đó có thể xem là kỷ niệm đầu tiên của tôi về Đồng Tháp Mười mà mãi sau này hơn hai mươi năm đăng đẵng tôi mới có dịp chạm tay vào nước phèn lần thứ hai.

Với tôi, ngày đó mãi còn đây

 Tập kết! Ai quên nhớ thể nào thì không biết chớ với tôi thì những ngày đó, tôi nhớ rõ mồn một như mới vừa xảy ra vài năm nay. Bởi lẽ nó là một trong những bước ngoặc lớn của đời mình. Hơn thế nữa, nó còn là những ký ức đẹp về tình cảm đồng bào, đồng chí, đồng đội. Tháng 8/1954, đơn vị tôi từ Phong Mỹ di chuyển về Tân Thuận Tây. Trước khi chuẩn bị về nơi đóng quân mới, Ban chỉ huy tiểu đoàn đã sinh hoạt trước với toàn đơn vị về tình hình nơi ở mới. Tân Thuận Tây lúc đó có một số bà con theo đạo Hòa Hảo. Những tín đồ này phần lớn là người tốt nhưng dễ bị lôi kéo và lợi dụng. Vì vậy khi sống với bà con ta vừa đề cao cảnh giác nhưng cũng phải hết sức làm tốt công tác dân vận để bà con tin tưởng, thương yêu và đùm bọc cách mạng.

Tôi và một hai anh em nữa được đưa về ở trong một gia đình ở gần Chợ Cũ. Chợ hồi đó chỉ có một cái nhà lồng ọp ẹp. Xung quanh chỉ khoảng hơn chục tiệm quán mua bán nhỏ lẻ. Cảnh chợ quê chủ yếu mua bán, trao đổi với bà con xung quanh nên cũng chẳng có gì gọi là sung túc lắm. Tuy nhiên, được cái là dân mình rất coi trọng bộ đội. Sáng nào cũng vậy, đơn vị tôi tổ chức chào cờ thì bà con nghỉ bán ra đứng xếp hàng chào cờ chung với chúng tôi. Tổ của tôi có 3 người. Ăn có chế độ riêng nhưng được xem như con em trong nhà. Vì vậy, chúng tôi cũng rất cẩn thận từng nết ăn nết ở. Gia đình có gì thì cũng mời chúng tôi ăn. Thậm chí, xung quanh nhà nào có đám giỗ cũng đến mời bộ đội dự. Tình cảm quân dân gắn kết như cá với nước. Chỉ một tháng sống ở đây, những tị hiềm, mặc cảm, ngăn cách giữa bộ đội và bà con gần như không còn nữa.

Hàng ngày, ngoài việc sinh hoạt, học tập chính trị và đường lối, chủ trương trong tình hình mới; chúng tôi còn được học cách ăn nói, sinh hoạt theo phong tục, tập quán miền Bắc để khi ra đó khỏi bỡ ngỡ. Chiều, anh em tụ tập các em nhỏ lại tổ chức dạy ca hát. Rảnh rỗi, thì tham gia sửa đường, bắc cầu giúp bà con. Sống chan hòa hết mình với bà con nhưng phải giữ ý giữ tứ từng chút một. Thấy phụ nữ đi qua cũng không dám dòm thẳng. Nhà có phụ nữ cũng không được nhìn vào cửa buồng. Ăn nói phải cẩn thận từng lời. Chúng tôi làm mọi việc với mục đích vô tư, không hề nghĩ ngợi gì. Tất cả chỉ với mong muốn trước khi đi mình để lại cho bà con những ấn tượng đẹp về anh bộ đội cụ Hồ.

Thấy chúng tôi sống hết tình hết nghĩa không hề so đo, tính toán nên bà con cũng đối đãi hết mực chân thành. Thanh niên nam nữ trong xóm rủ nhau xúm lại chẻ trúc đan nón theo kiểu nón nan tặng cho bộ đội. Một số chị em khéo tay lấy chỉ thêu kết ngoài đồng xu đỏ thành những ngôi sao thật đẹp gắn lên nón. Mỗi người chúng tôi, ai cũng có một kỷ vật như vậy để mang ra miền Bắc. Hồi ấy khi ra miền Bắc, ngoài kỷ niệm về quê hương, gia đình, anh em, bạn bè, tôi còn mang theo trong trái tim mình một chút tình càm trai gái vừa chớm nở. Số là, trong gia đình tôi đóng quân có một cô con gái khoảng 16, 17 tuổi. Gần 3 tháng ở đó, tuy thỉnh thoảng có gặp nhau vài lần nhưng chưa ai nói với ai lời nào. Vậy mà bữa chúng tôi chuẩn bị đi, cô gái vội vàng giúi vào tay tôi một cái khăn rằn và một cái quần đùi với lời chúc đi bình yên. Chiếc nón nan và hai món quà của cô gái Tân Thuận Tây đó được tôi cất giữ cho đến năm 1960 mới bị cháy trong một trận máy bay Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc. Giờ nghĩ lại thấy tiếc vô cùng. Ngôi nhà tôi ở khi đó tại Chợ Cũ là một ngôi nhà phía trước bán tiệm tạp hóa nhỏ. Mọi người quen gọi là thím Hai, còn có một người con trai khoảng 7, 8 tuổi chừng như là tên Thắm. Cô gái kia, thường gọi là cô Hai mà lúc đó vô ý tôi cũng chẳng kịp hỏi tên. Mãi sau năm 1975, tôi có dịp trở lại đây thì mọi thứ thay đổi khiến tôi không còn nhận ra nơi mình đóng quân hồi đó. Hỏi thăm, ai cũng lắc đầu. Đúng là chiến tranh khắc nghiệt thật !

Ngày 23/10/1954, đúng 3 giờ sáng chúng tôi nhận lệnh hành quân ra bến Bắc Cao Lãnh để chuẩn bị lên tàu. Đêm đó, tôi còn nhớ trời mưa rúc rắc. Đường lầy lội, anh em phải dò dẫm từng bước. Vào khoảng cuối tháng 9 âm lịch, trời không trăng, chúng tôi phải đi trong màn đêm ẩm ướt nên khi ra tới Bắc Cao Lãnh mất gần 3 giờ đồng hồ, chờ đến 10 giờ thì được lên tàu, mệt nhưng nhìn xung quanh có đến hàng ngàn bà con Cao Lãnh ra đưa tiễn nên tuy anh em có bùi ngùi nhưng cũng thấy vui vui. Ai cũng vẫy tay hẹn hai năm gặp lại, tin tưởng rằng ngày ra đi và ngày về không xa lắm !

Tôi lên tàu với hành lý mang theo là một bộ đồ vải ta nhuộm rau dừa, một bộ đồ chính quy theo kiểu thời đó, một khẩu súng trường Mas. Lương thực thì chủ yếu là lương khô, bánh tổ, bánh bich-quy và sữa hộp có đường đã luộc chín. Con tàu há mồm của thằng Tây trong chốc lát đã nuốt gọn hơn 300 con người chúng tôi và lặng lẽ rời bến Bắc Cao Lãnh với những hồi còi súp lê vô hồn vô cảm, khiến tôi và anh em trên tàu cảm thấy xốn xang. Chúng tôi ngồi bệt xuống sàn tàu. Tụm lại thành nhóm đờn ca, hát hò suốt từ Cao Lãnh ra Vũng Tàu. Những người lính Việt theo Tây ngồi trên mui xem chúng tôi ca hát. Mấy tên chỉ huy người Tây thì tỏ vẻ không quan tâm lắm nhưng thái độ của họ cũng rất thân thiện.

  Hai năm không dài nhưng với tôi lúc đó đây là lần đầu tiên trong đời mình đi xa nhất, đi bằng tàu biển, đi lênh đênh giữa trời nước mênh mông nên trong lòng trào lên những cảm xúc không sao nói được. Nhứt là khi tàu chạy ngang Mỹ Thuận, nhìn về hướng Cái Tàu Hạ thấy cột dây thép bưu điện thấp thoáng trên trời, tôi bỗng nhiên nhớ nhà, nhớ quê, nhớ chị và má tôi vô cùng. Lúc đó, tôi xúc động đến muốn ngất xỉu. Mờ sáng hôm sau, tàu mới ra tới Vũng Tàu. Ba tàu Tây lên một tàu “ta”. Tàu “ta” chở chúng tôi là loại tàu hàng của Ba Lan. Trên sàn tàu đóng nhiều sạp bằng gỗ thông còn hăng hăng mùi nhựa. Mỗi trung đội vô một sạp nằm đỡ vài ngày. Hình như đây là tàu chở đậu nành. Vẫn còn thấy nhiều hạt đậu nằm kẹt lại trong các khe hở của những song sắt trên tàu.

Ba ngày trên biển, say sóng không thể tưởng,tôi ăn cái gì cũng muốn ói ra. Trung đội tôi lại nằm gần mũi tàu nên say sóng còn nặng hơn. Nhưng kỷ luật quân đội mà, ai được phân công ở đâu thì ở đó. Muốn thay đổi cũng không được. Ăn chỉ rặt ba thứ lương khô cầm hơi. Thèm cơm vô cùng nhưng cũng đành chịu. Trên tàu, anh em cũng có đem gạo theo nhưng không cách gì nấu được. Ngày 1 tháng 11 năm 1954, tàu tới Sầm Sơn (Thanh Hóa). Tôi nhớ khi đó nhằm lúc triều xuống, nước biển cạn nên chỉ đậu ngoài xa, cách bờ áng chừng 3 cây số. Mừng quá, chúng tôi hò reo inh ỏi rồi quăng hết lương khô xuống biển, chờ mấy o Thanh Hóa đem thuyền ra rước vào bờ.

Đến nơi mới hay bà con mình ở đây vẫn còn nghèo lắm. Ăn còn độn khoai lang, khoai mì nhưng sẵn sàng nhường cơm cho chúng tôi. Nhớ lại những thực phẩm và cả gạo nữa, mấy ngày trước mình vứt xuống biển mà lòng tiếc hùi hụi. Lên bờ, cơm nước xong chúng tôi đi bộ một ngày một đêm về Hậu Lộc. Ăn cơm ở miền Bắc mà thấy sao toàn món miền Nam, nấu hệt mùi vị, kiểu cách miền Nam. Hỏi ra mới biết ở đây đã tập trung cả trăm chị em học nấu ăn theo Nam bộ suốt cả tháng trời để đón chúng tôi. Thiệt là cảm động vô cùng.

Những năm tháng ở miền Bắc với tôi là “ngày Bắc, đêm Nam”. Hai năm rồi ba năm, năm năm và cuối cùng là hai mốt năm đằng đằng chia ly, chờ đợi, khắc khoải mong ngóng tin tức từ miền Nam. Để rồi,  mỗi khi nghe tin thắng trận ở miền Nam là mỗi lần lồng ngực tôi như vỡ ra từng mảnh. Tôi còn nhớ ngày 10/3/1975 khi đài báo chúng ta tấn công Buôn Ma Thuột thì tất cả anh em miền Nam ở nông trường chăn nuôi bò sữa Ba Vì thức suốt đêm không ngủ được. Ai cũng tưởng ngày về miền Nam chỉ còn trong nay mai. Tự dưng, giờ kể lại chuyện này tôi chợt nhớ đến một người bạn mình ở chung đơn vị ngoài Bắc. Chiến tranh đã bày ra nhiều trò trớ trêu của số phận. Anh đi tập kết. Chị ở trong Nam tìm cách sang Campuchia, rồi qua Trung Quốc để đến được miền Bắc tìm anh. Tới nơi, thì mới hay tin anh đã đi B trước đó ba tháng. Vậy là lại Ngưu Lang, Chức Nữ tiếp tục. Mãi đến năm 1976, anh chị mới gặp được nhau. Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:

Ôi năm nào nửa vầng trăng anh cách trở nửa trăng em.

Đến sông núi cũng chia làm hai nửa      

Nay Tổ quốc đã rằm. Cơn hội ngộ        

Người đoàn viên mà dân tộc cũng đoàn viên.

Nam Bắc giờ đã liền một dãy non sông. Với tôi - một trong những người từng chứng kiến cảnh đất nước phải chịu chia hai thì câu nói: Không có gì quý hơn độc lập tự do mà Bác Hồ đã để lại cho chúng ta hôm nay thật quý giá vô cùng.

Ông Nguyễn Văn Khải kể

(Nguyên chiến sĩ Trung đội B-d311)

Hữu Nhân ghi




Gửi ý kiến:
Tiêu đề*
Nội dung*
Upload FileNhap file  Xoa file 
Họ tên*
Địa chỉ*
Địa chỉ Email
Mã bảo vệ:
Nhập mã bảo vệ:

Ý kiến bạn đọc:  
 <<   <   1   2   3   4   5   ...   >   >>