.::Trang Thông Tin Điện Tử Ban Tuyên Giáo Tỉnh Đồng Tháp::.
Chào mừng các bạn đến với Trang Thông tin Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Đồng Tháp Trang chủ
Nội dung chi tiết
Nghe bài     Cỡ chữ : A- A A+
Đề cương tuyên truyền kết quả 05 năm thực hiện Chương trình hành động số 111-CTr/TU của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng khoá X
Qua 05 năm thực hiện Chương trình hành động số 111-CTr/TU của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 khóa X “về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)” của Tỉnh có sự chuyển biến tích cực, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế.

I- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG 05 NĂM QUA

1- Công tác triển khai, quán triệt

Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 khóa X, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã tham mưu Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh ban hành Chương trình hành động số 111-CTr/TU và tổ chức Hội nghị triển khai, quán triệt đến cán bộ chủ chốt của Tỉnh, huyện (tương đương); chỉ đạo UBND Tỉnh cụ thể hoá Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh, tổ chức các hội thảo phổ biến nguyên tắc, nội dung cam kết và tổ chức hoạt động của WTO đến các cấp, các ngành, chủ thể sản xuất kinh doanh, hiệp hội ngành, nghề biết, cụ thể hóa các nhiệm vụ vào kế hoạch hoạt động hàng năm của địa phương, đơn vị. Ngoài ra, các ngành Tỉnh mở nhiều lớp đào tạo, phổ biến kiến thức pháp luật về thương mại - đầu tư, về các cam kết của nước ta với WTO; thường xuyên tuyên truyền về các quy tắc, luật lệ, nội dung cam kết, những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO cho các doanh nghiệp và nhân dân biết.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,9%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 7,72 triệu đồng/năm (theo giá cố định năm 1994), kim ngạch xuất khẩu đạt 480,71 triệu USD/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Chỉ số năng lực cạnh tranh của Tỉnh liên tục tăng qua các năm. Hoạt động văn hóa - xã hội có tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định. Quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đạt những kết quả quan trọng.

2- Sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

- Về tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn được sắp xếp tinh gọn, giảm đầu mối và thực hiện chức năng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; biên chế hành chính và biên chế sự nghiệp được bố trí theo yêu cầu phát triển của từng cơ quan, đơn vị, tạo điều kiện thuận lợi trong thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, góp phần giải quyết những khó khăn trong bố trí, sắp xếp lại cán bộ, công chức, nâng dần chất lượng, trẻ hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

- Về công tác cải cách hành chính: triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hành chính nhà nước, nhất là thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông nhằm tạo thuận lợi trong mối quan hệ, giao tiếp của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp. Áp dụng quy trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 trong các cơ quan hành chính. Vận hành thông suốt hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến, nâng cao chất lượng hội nghị và tiết kiệm chi phí. Chú trọng phát huy hiệu quả Cổng thông tin điện tử Đồng Tháp để công khai, minh bạch các hoạt động của UBND Tỉnh, phổ biến các văn bản chỉ đạo điều hành, văn bản pháp quy, kết quả xử lý công việc đúng quy định của pháp luật. Quy trình rà soát, kiểm tra và ban hành văn bản được cải tiến, chất lượng văn bản nâng lên, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện đầy đủ, rõ ràng, cụ thể, phù hợp theo cam kết của Việt Nam với WTO.

Các ngành, các cấp thực hiện tốt chủ trương cải tiến lề lối làm việc, nâng cao trách nhiệm, thể hiện được vai trò đầu mối trong việc điều phối xử lý các vấn đề liên ngành, giảm bớt tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, đẩy nhanh tiến độ xử lý công việc; chú trọng nâng cao chất lượng tham mưu, quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các đề án. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành, dành thời gian đi thực tế nắm tình hình, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh.

3- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư.

- Về đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, khu thương mại, du lịch: quy hoạch được 08 khu công nghiệp và 31 cụm công nghiệp với tổng diện tích gần 3.000ha; trong đó, quy hoạch chi tiết và triển khai xây dựng 03 khu (Sa Đéc, Sông Hậu và Trần Quốc Toản) và 31 cụm với tổng diện tích hơn 1.700ha. Nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, kho tàng... được ban hành phù hợp với hình thức, quy mô đầu tư. Đến nay, toàn Tỉnh đã phát triển được 288 chợ; tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng, mở rộng các khu du lịch theo định hướng phát triển chung của Tỉnh.

- Về hạ tầng kinh tế biên giới: đã đưa vào hoạt động 02 cửa khẩu quốc tế Thường Phước, Dinh Bà và một số chợ, công trình hạ tầng thuộc khu kinh tế cửa khẩu. Tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng viễn thông vùng biên, gắn với Chương trình quốc gia đưa thông tin về cơ sở, mở rộng dịch vụ ở các bưu cục và điểm bưu điện - văn hoá xã biên giới.

- Về phát triển đô thị: hoàn thành nâng cấp thị xã Cao Lãnh lên thành phố, thành lập mới thị xã Hồng Ngự. Tiếp tục nâng cấp thành phố Cao Lãnh đạt tiêu chí đô thị loại II, hoàn chỉnh tiêu chuẩn đô thị loại III đối với thị xã Sa Đéc và đô thị loại IV đối với thị xã Hồng Ngự, thị trấn Mỹ An và thị trấn Lấp Vò.

- Về hạ tầng giao thông: tập trung các nguồn lực đầu tư các tuyến đường tỉnh, huyện, đô thị và nông thôn với tổng chiều dài trên 2.600km, nhựa hóa và bê tông hóa trên 50%; nạo vét, mở rộng các tuyến đường thủy quốc gia trên địa bàn với tổng chiều dài khoảng 227km; đầu tư xây dựng 04 hệ thống cảng với tổng công suất gần 11.000 DWT. Phối hợp các bộ, ngành Trung ương đầu tư nâng cấp 03 tuyến quốc lộ trên địa bàn với tổng chiều dài 190,4km (QL.30, QL.80, QL.54), triển khai xây dựng tuyến đường N2.

4- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ.

- Về xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm: đã xây dựng Chương trình xây dựng nhãn hiệu hàng nông sản của Tỉnh đến năm 2020. Đến nay, có 05 sản phẩm (xoài Cao Lãnh, quýt hồng Lai Vung, ớt Thanh Bình, cá tra giống huyện Hồng Ngự, khô cá lóc Tràm Chim - Tam Nông) được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu và tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông, hỗ trợ xây dựng website quảng bá sản phẩm, hình ảnh của địa phương. Công tác xúc tiến thương mại và đầu tư được đẩy mạnh thông qua hoạt động tổ chức, tham gia nhiều cuộc triển lãm, hội chợ, hội thảo trong và ngoài nước giới thiệu sản phẩm, các dự án kêu gọi đầu tư và quảng bá hình ảnh của Tỉnh. Ngoài ra, Tỉnh đã tổ chức và hỗ trợ các doanh nghiệp khảo sát, tìm hiểu thị trường tại Campuchia, Mỹ, Trung Quốc; tăng cường công tác dự báo, thông tin thị trường, giúp các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và nông dân chủ động trong sản xuất, kinh doanh; củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động các hiệp hội ngành nghề, câu lạc bộ doanh nghiệp để tổ chức liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Về nâng cao số lượng và chất lượng doanh nghiệp: Toàn Tỉnh hiện có 1.863 doanh nghiệp với tổng vốn khoảng 15.500 tỷ đồng và 47.310 hộ kinh doanh cá thể với tổng vốn 3.395 tỷ đồng.

Việc sắp xếp, đổi mới và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước những năm qua đã đem lại kết quả tích cực, có nhiều doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán, đây là bước phát triển của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá đều có doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước cao hơn trước khi cổ phần hoá. Các doanh nghiệp từng bước đổi mới công nghệ sản xuất, hoàn thiện phương thức kinh doanh, xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế như: ISO, HACCP, GMP, SQF, GLOBAL GAP... nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

- Về thu hút đầu tư: Tỉnh đã nỗ lực xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, bình đẳng; xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa chính quyền với doanh nghiệp thông qua các cuộc tiếp xúc, gặp mặt, kịp thời giải quyết những vướng mắc, tồn đọng, tạo điều kiện để các doanh nghiệp có môi trường sản xuất, kinh doanh thuận lợi, giảm chi phí gia nhập thị trường, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực… đã khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, phát triển các loại hình doanh nghiệp. Đã thu hút được 80 dự án đầu tư mới, nâng tổng số lên 139 dự án đầu tư, tổng vốn đăng ký khoảng 9.000 tỷ đồng, trong đó, các khu, cụm công nghiệp 117 dự án với tổng vốn đăng ký 7.694 tỷ đồng và 27,86 triệu USD. Đặc biệt, trong năm 2011, Tỉnh đã ký kết hợp tác đầu tư với Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn đưa vào hoạt động cảng container Tân Cảng - Sa Đéc, công suất 6.000TEU/tháng, cung cấp dịch vụ kho vận trọn gói cho tuyến đường sông nối liền Campuchia - đồng bằng sông Cửu Long - Thành phố Hồ Chí Minh - Cái Mép, Bà Rịa - Vũng Tàu nhằm tạo thuận lợi cho xuất, nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp.

5- Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân.

- Về ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất: Tỉnh đã tổ chức nhiều lớp đào tạo, tập huấn và chuyển giao các tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân giảm giá thành sản xuất, tăng năng suất, chất lượng nông sản. Đào tạo kiến thức tin học cho hội viên Hội Nông dân các cấp, giúp nông dân từng bước tiếp cận khoa học - công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lao động, sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống. Xây dựng website Bạn nhà nông, cung cấp thông tin về nông nghiệp, nông thôn phục vụ nông dân phát triển sản xuất.  

Quan điểm mới về phát triển sản xuất và thị trường được hình thành trong nông dân, nhiều mô hình sản xuất hàng hoá tập trung, chuyên canh, chuyên môn hóa, sản xuất theo hướng sạch, an toàn (GAP) ngày càng phổ biến. Nhiều hộ nông dân mạnh dạn đầu tư công nghệ, áp dụng các tiêu chuẩn an toàn vào sản xuất, kinh doanh (GAP, Viet GAP, Global GAP…), thu được hiệu quả rõ nét.

- Việc đầu tư cơ giới hoá: Thực hiện Dự án cơ giới hóa nông nghiệp, Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo từ năm 2006 đến nay, toàn Tỉnh có 3.633 máy xới, 11.876 công cụ sạ hàng, 35.825 máy phun thuốc, 13 máy sạ hàng kết hợp phun thuốc, 1.264 máy gặt đập liên hợp, 917 máy gặt xếp dãy, 15 máy gom suốt, 1.967 máy suốt và 763 lò sấy, 702 trạm bơm điện; nâng tỷ lệ diện tích lúa thu hoạch bằng máy đạt gần 75% và gần 18% sản lượng lúa Hè Thu được sấy bằng máy, 58% diện tích canh tác được tưới tiêu bằng bơm điện.

- Về xây dựng mô hình liên kết giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ: những năm gần đây, các ngành và các địa phương đã có nhiều nỗ lực trong triển khai thực hiện liên kết "bốn nhà" bằng nhiều chính sách hỗ trợ, chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện trong thời gian qua... đến nay, đã hình thành nhiều mô hình cung ứng vật tư - sản xuất - tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng mang lại hiệu quả cao, nhất là trên cây lúa, ớt, cá tra và tôm.

- Về phát triển các loại hình kinh tế tập thể: Toàn Tỉnh hiện có 161 hợp tác xã, trong đó có 107 hợp tác xã hoạt động 01 dịch vụ (chủ yếu là dịch vụ bơm tưới, tiêu, chiếm 67,72%), có 26 hợp tác xã tổ chức 02 dịch vụ, chiếm tỉ lệ 16,46%, có 16 hợp tác xã tổ chức 03 dịch vụ, chiếm tỉ lệ 10,13%, có 09 hợp tác xã tổ chức từ 04 dịch vụ trở lên, chiếm 5,70%. Bên cạnh những dịch vụ truyền thống, các hợp tác xã đã chú trọng phát triển những dịch vụ mới thiết thực hơn như: Huy động và hỗ trợ vốn cho xã viên vay lãi suất thấp, tiêu thụ nông sản...

- Về xây dựng nông thôn mới: Bộ mặt văn hoá nông thôn ngày càng đổi mới, số lượng gia đình, khóm, ấp văn hoá tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ công (y tế, giáo dục); môi trường sống được cải thiện. Đến nay, toàn Tỉnh đã triển khai 256 cụm, tuyến dân cư, bố trí 40.934 hộ dân vào sinh sống, tạo điều kiện phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống, góp phần điều chỉnh phân bổ dân cư, là điều kiện để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, xây dựng nông thôn mới.

- Về phát triển các làng nghề nông thôn: số hộ và cơ sở ngành, nghề ở nông thôn tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên. Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 08 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể tạo 04 - 06 lao động thường xuyên và 02 - 05 lao động thời vụ, góp phần quan trọng trong thực hiện công tác giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nhàn rỗi, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống người lao động.

- Về đào tạo, hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm nhằm chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác: Tỉnh đã phê duyệt Đề án đào tạo nghề nông thôn, tổ chức dạy nghề cho gần 30.000 lao động nông thôn (trong đó dạy nghề nông nghiệp 2.400 lao động và nghề phi nông nghiệp là 12.440 lao động), với kinh phí hỗ trợ trên 13,8 tỷ đồng. Tuyển mới trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề là 4.259 học viên. Từ đó, góp phần nâng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động nông thôn lên 83%.

- Về thực hiện chính sách giảm nghèo, xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, gia đình chính sách: Công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội được quan tâm, hàng năm tạo việc làm mới và việc làm thêm cho khoảng 41.478 lao động. Thu nhập và mức sống dân cư được cải thiện trên diện rộng, số việc làm tăng nhanh đã tác động tích cực đến việc xoá đói giảm nghèo; người lao động làm việc trong các ngành, vùng kinh tế, các nhóm dân cư… đều được chia sẻ thành quả về giảm nghèo, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 12,85%; thu nhập bình quân/đầu người năm 2011 tăng 1,64 lần so năm 2007.

6- Công tác đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng giáo dục.

Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông và trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng tăng lên qua từng năm. Nguồn nhân lực trên địa bàn đáp ứng dần yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ.

Hiện toàn Tỉnh có 683 trường mầm non, phổ thông (trong đó, có 63 trường đạt chuẩn quốc gia), có 01 trường đại học, 03 trường cao đẳng, 03 trường trung cấp nghề, 14 trung tâm dạy nghề, 15 cơ sở dạy nghề tư nhân, 01 trung tâm giới thiệu việc làm… hàng năm, đào tạo cho trên 22.000 người, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của Tỉnh lên 40%, trong đó qua đào tạo nghề đạt 26,6% (trong số này có trên 70% có việc làm ổn định).

Đào tạo, bồi dưỡng được 23.045 lượt người, trong đó, đào tạo cao cấp lý luận chính trị 343 người; trung cấp lý luận chính trị 1.116 người; đào tạo trình độ quản lý nhà nước: 06 thạc sĩ, 294 cử nhân, 938 trung cấp; đào tạo chuyên môn: 02 tiến sĩ, 40 thạc sĩ, 750 đại học - cao đẳng, 1.272 trung cấp và bồi dưỡng 17.925 lượt cán bộ... từ đó, đã đưa tiêu chuẩn cán bộ, công chức toàn Tỉnh đạt 97,5% về lý luận chính trị, 96,1% về quản lý nhà nước và 93,2% về trình độ chuyên môn; tỷ lệ cán bộ, giáo viên có trình độ sau đại học đạt 25,1%.

7- Công tác bảo vệ môi trường: Tỉnh đã ban hành nhiều quy định, quy chế, tổ chức nhiều cuộc mít-tinh, tuyên truyền pháp luật... góp phần nâng cao nhận thức chung về bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Xây dựng các giải pháp và chính sách xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, các mô hình sản xuất theo hướng an toàn sinh học, các giải pháp công nghệ để kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường do phát triển công nghiệp chế biến, nuôi trồng thuỷ sản.

8- Về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Toàn Tỉnh hiện có 61 di sản văn hóa lịch sử, trong đó có 49 di tích được công nhận cấp Tỉnh, 12 di tích được công nhận di tích cấp quốc gia. Từ nhiều nguồn vốn khác nhau, các di tích lịch sử văn hóa, đình, chùa trong Tỉnh đã được trùng tu, tôn tạo thường xuyên, đúng quy định, nguyên tắc bảo tồn, bảo tàng và có tính bền vững. Trong đó, đã thực hiện dự án bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị Khu di tích mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, với tổng vốn đầu tư 95 tỷ đồng, bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị Khu di tích Gò Tháp 115 tỷ đồng... cùng với việc tổ chức các hoạt động lễ hội theo hình thức xã hội hoá, đã quảng bá du lịch và hình ảnh của Tỉnh đến với bạn bè quốc tế, thu hút đông đảo khách tham quan, du lịch.

9- Bảo đảm quốc phòng - an ninh.

Triển khai thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước, bảo đảm an ninh văn hóa tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh tôn giáo, giải quyết tốt các tranh chấp, khiếu kiện của nhân dân...

Các ngành chức năng tăng cường công tác nắm tình hình hoạt động của các thế lực thù địch; tăng cường đấu tranh, phòng ngừa các loại tội phạm, nhất là tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm kinh tế, tội phạm xuyên quốc gia... không để phát sinh điểm nóng, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, hội nhập kinh tế quốc tế của Tỉnh.

Quan hệ đối ngoại được mở rộng, tranh thủ được sự đồng tình, hỗ trợ từ Trung ương. Đã tiến hành ký kết thoả thuận hợp tác giữa tỉnh Đồng Tháp - tỉnh Prâyveng, tỉnh Ban-Tây-Miên-Chây; tổ chức Đoàn xúc tiến thương mại giữa tỉnh Đồng Tháp và các tỉnh Tây Bắc của Vương quốc Campuchia.

II- NHỮNG MẶT LÀM ĐƯỢC, HẠN CHẾ, YẾU KÉM, NGUYÊN NHÂN

1- Những mặt làm được.

Nền kinh tế của Tỉnh có sự chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2007 - 2011 đạt bình quân 13,9%/năm. Các sản phẩm có lợi thế của Tỉnh giữ được thị trường và có mức tăng trưởng khá, nhất là mặt hàng gạo và thuỷ sản chế biến. Cơ cấu nền kinh tế của Tỉnh trong những năm gần đây có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ ngày càng tăng, tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thuỷ sản giảm dần.

2- Một số hạn chế, yếu kém.

Nguồn lực của địa phương còn hạn chế, chưa đủ đáp ứng tốt nhu cầu phát triển. Môi trường đầu tư của Tỉnh có bước cải thiện nhưng chưa thật sự thu hút doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong Tỉnh còn thấp.

Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông thiếu đồng bộ, nhiều nơi còn yếu kém, chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp chậm; lực lượng lao động tuy đông về số lượng nhưng thiếu lao động có tay nghề, có tính chuyên nghiệp, làm hạn chế năng lực cạnh tranh, mở rộng quy mô sản xuất của các doanh nghiệp. Kinh tế biên giới chưa phát huy hiệu quả tích cực. Nước sạch, vệ sinh môi trường một số nơi đang là nhu cầu bức xúc. Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh chấp hành chưa nghiêm quy định về bảo vệ môi trường.

* Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:

Nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức về hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế. Một số doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chưa nhận thức đầy đủ những cơ hội và thách thức, những tác động của hội nhập mang lại cho nền kinh tế, cho đơn vị mình.

Phân bổ nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn nhiều bất cập.

Công tác phối hợp, trao đổi thông tin giữa các sở, ngành, địa phương trong quá trình thực hiện Chương trình hành động còn hạn chế. Mối quan hệ, phối hợp thực hiện giữa các bộ, ngành Trung ương với địa phương chưa chặt chẽ.

III- NHIỆM VỤ VÀ GiẢi pháp TRONG THỜI GIAN TỚI.

1- Tổ chức tuyên truyền và phổ biến kiến thức về WTO.

Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về hội nhập kinh tế quốc tế, về các nội dung liên quan đến cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, cam kết thực hiện lộ trình cắt giảm thuế AFTA.

Triển khai kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại và đầu tư có nội dung liên quan đến cam kết quốc tế, các hiệp định thương mại song phương, đa phương khác đến cán bộ, công chức và doanh nghiệp. Nghiên cứu đưa nội dung giảng dạy về WTO và các cam kết hội nhập vào chương trình đào tạo của Trường Chính trị Tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trị trên địa bàn.

2- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch.

Rà soát và thực hiện phân cấp quản lý, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan chính quyền. Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để kịp thời loại bỏ hoặc thay thế các quy định không phù hợp. Tiến hành rà soát và điều chỉnh các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, quy hoạch phát triển ngành trên địa bàn phù hợp với tình hình mới.

3- Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực.

Tăng cường đào tạo chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức hội nhập quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức. Triển khai thực hiện những chương trình đào tạo, tập huấn chuyên đề về WTO và hội nhập dành cho các doanh nghiệp và doanh nhân như: Bảo hộ và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, thuế quan và các hàng rào kỹ thuật trong xuất nhập khẩu, vệ sinh an toàn thực phẩm, chống bán phá giá. Khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức đầu tư phát triển nguồn nhân lực, tập trung đào tạo công nhân kỹ thuật, đào tạo ngoại ngữ.

Triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của Tỉnh. Thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội với hình thức đào tạo linh hoạt.

4- Thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển.

Thực hiện tốt công tác vận động, chuẩn bị dự án thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ (NGO) vào phát triển kết cấu hạ tầng đô thị và hạ tầng nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực, các dịch vụ hạ tầng xã hội như giáo dục phổ thông, y tế. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

5- Nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, phát triển dịch vụ.

Thực hiện tốt công tác quy hoạch phát triển hệ thống thương mại trên địa bàn, đặc biệt chú trọng đến hệ thống bán buôn, bán lẻ một số mặt hàng thiết yếu để bình ổn thị trường, phát triển chợ đầu mối, chợ nông thôn. Phát triển du lịch sinh thái, lễ hội và các ngành dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất, đời sống và tăng trưởng kinh tế.

6- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, sản xuất hàng tiêu dùng, xuất khẩu. Huy động mọi nguồn lực xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng, thu hút các nhà đầu tư hạ tầng và phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu.

7- Hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Xây dựng các vùng nguyên liệu hàng hoá tập trung, hình thành doanh nghiệp cổ phần sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản và dịch vụ nông thôn. Thúc đẩy hình thành các mối liên kết giữa nông dân sản xuất nguyên liệu, sản phẩm với doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp kinh doanh thương mại.

Tăng cường chất lượng công tác khuyến nông, cung cấp cho lao động nông thôn các kỹ năng, kiến thức và thông tin về canh tác, cây, con giống, thị trường tiêu thụ. Xây dựng mô hình tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp thông qua hợp đồng giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và nông dân. Đầu tư mạnh cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, thuỷ lợi,... bảo đảm phát triển sản phẩm nông nghiệp hàng hoá và xây dựng nông thôn mới.

Triển khai một số dự án trọng điểm về sản xuất nông nghiệp: Kiên cố hoá kênh mương, cải tạo công trình thuỷ lợi, đê bao kết hợp giao thông nông thôn và vận chuyển nông sản.

8- Bảo vệ, phát huy những giá trị văn hoá dân tộc, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc.

Tăng cường tuyên truyền nếp sống văn hoá, duy trì bản sắc văn hoá dân tộc và các giá trị truyền thống. Đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá, huy động nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế, cùng với ngân sách Nhà nước để đầu tư cho giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - thể thao và các lĩnh vực xã hội khác. Triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình  giảm nghèo, tạo việc làm, phòng, chống các tệ nạn xã hội. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, làng nghề đầu tư cải tiến công nghệ, thiết bị tiên tiến, thân thiện với môi trường. Kịp thời nêu gương người tốt, việc tốt và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.

9- Bảo đảm quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Duy trì thường xuyên phong trào vận động quần chúng đấu tranh phòng,  chống và tố giác tội phạm, các tệ nạn xã hội. Tạo môi trường xã hội ổn định cho phát triển kinh tế và hội nhập. Nâng cao nhận thức và thái độ chính trị của người dân đối với vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế; ngăn ngừa các luận điệu tuyên truyền, phá hoại của các thế lực thù địch về chính sách của Đảng, Nhà nước. Quan tâm giải quyết thoả đáng khiếu nại, tố cáo của công dân./.

Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ (Nguồn: Báo cáo Tỉnh uỷ)




Gửi ý kiến:
Tiêu đề*
Nội dung*
Upload FileNhap file  Xoa file 
Họ tên*
Địa chỉ*
Địa chỉ Email
Mã bảo vệ:
Nhập mã bảo vệ:

Ý kiến bạn đọc:  
 <<   <   1   2   3   4   5   ...   >   >>